Nguồn: Dennis J. Blasko, “China’s Military Reforms Since 2015: Is Time on Its Side?,” The Diplomat, 29/12/2025
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Các cuộc cải cách mới nhằm chuẩn bị lực lượng tốt hơn cho răn đe, tác chiến, và các hoạt động quân sự phi chiến tranh. Nhưng liệu chúng có hiệu quả?
Sau nhiều năm lập kế hoạch và thử nghiệm học thuyết, vào ngày cuối cùng của năm 2015, các lực lượng vũ trang Trung Quốc (gồm Quân Giải phóng Nhân dân, Cảnh sát Vũ trang Nhân dân, và Dân quân) đã chính thức bắt đầu chuỗi cải cách sâu rộng nhất kể từ thập niên 1950, khi họ áp dụng cấu trúc tổ chức quân sự của Liên Xô.
Các cải cách mới nhằm mục đích chuẩn bị lực lượng tốt hơn cho răn đe, tác chiến, và các hoạt động quân sự phi chiến tranh, cả trong việc bảo vệ lãnh thổ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và tại các khoảng cách ngày càng xa biên giới. Sự hợp tác với khu vực dân sự (hội nhập quân-dân, được gộp vào khái niệm mới là “Hệ thống và Năng lực Chiến lược Quốc gia Tích hợp”) là điều cần thiết để cung cấp nhân lực, vũ khí hiện đại (hiện gần như tất cả đều được sản xuất trong nước), hậu cần, và sự hỗ trợ chính trị cần thiết để tiến hành các hoạt động tác chiến liên hợp tích hợp trên nhiều miền (đất liền, biển, không trung, vũ trụ, không gian mạng, và thông tin).
Những cải cách này dự kiến sẽ hoàn thành trong vòng 5 năm như một phần của “chiến lược ba bước” dài hạn kéo dài đến năm 2035 và sau đó là tận năm 2049. Trong khi phần lớn các cải cách về cấu trúc và cắt giảm nhân sự đã hoàn tất vào năm 2020, các điều chỉnh bổ sung vẫn đang diễn ra, và dự kiến sẽ còn nhiều điều chỉnh nữa để bắt kịp với những tiến bộ về công nghệ cũng như những thay đổi trong môi trường trong nước và quốc tế.
Các cải cách cấp quốc gia và chiến khu
Đợt cải cách đầu tiên nhằm mục đích tăng cường khả năng của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc trong việc tiến hành các hoạt động tác chiến liên hợp, đồng thời giảm sự chi phối quá lớn của Lục quân và chuyển đổi lực lượng theo hướng thâm dụng công nghệ. Điều này bao gồm việc cắt giảm 300.000 nhân sự, khoảng một nửa trong số đó là sĩ quan, chủ yếu từ Lục quân. Việc này để lại một lực lượng thường trực với quân số khoảng 2 triệu người. Song song với đó, số lượng và tỷ lệ hạ sĩ quan cùng nhân viên dân sự mặc quân phục nhưng không thuộc biên chế đã được mở rộng.
Trước khi bắt đầu cải cách, ở cấp cao nhất trong chuỗi chỉ huy của Quân Giải phóng Nhân dân là Quân ủy Trung ương, bao gồm một chủ tịch là Tập Cận Bình; một thượng tướng Lục quân và một thượng tướng Không quân làm phó chủ tịch, cùng với năm thượng tướng Lục quân và các tư lệnh của Hải quân, Không quân, và Pháo binh II làm ủy viên. Cải cách đã mở rộng bộ máy tham mưu của Quân ủy Trung ương, biến nó thành một tổ chức liên hợp gồm 15 bộ, văn phòng, và ủy ban, thay thế cho 4 Tổng cục trước đây để thực hiện các chức năng kiểm soát và lập kế hoạch quân sự cấp quốc gia. Riêng Bộ Quốc phòng (do một ủy viên Quân ủy Trung ương lãnh đạo) chịu trách nhiệm về các tương tác với quân đội nước ngoài và phối hợp với các thành phần khác của chính phủ Trung Quốc.
Bảy Quân khu tập trung vào Lục quân đã bị giải thể và năm Chiến khu liên hợp được thành lập. Trước đây, các Tổng cục đóng vai trò là sở chỉ huy Lục quân, nhưng ngày nay, một bộ tư lệnh Lục quân cấp quốc gia mới đã được thành lập – trên thực tế, đây là một sự “giáng cấp” đối với Lục quân, khi họ bị đặt ngang hàng về mặt lễ tân với Hải quân, Không quân, và Quân chủng Tên lửa mới được thành lập. Dưới sự chỉ huy của Quân ủy Trung ương, các Chiến khu “chịu trách nhiệm về các hoạt động quân sự” trong khi các quân chủng tập trung vào việc “phát triển năng lực,” chẳng hạn như tổ chức, huấn luyện, và trang bị cho các đơn vị của họ, đồng thời có thể được giao nhiệm vụ thực hiện các chiến dịch đơn quân chủng.
Hai lực lượng liên hợp trên danh nghĩa cũng được tạo ra: Lực lượng Chi viện Chiến lược (SSF, bao gồm các đơn vị không gian, mạng/network, và thông tin) và Lực lượng Hỗ trợ Hậu cần Liên hợp, với một căn cứ tại mỗi Chiến khu. Phần lớn nhân sự trong hai lực lượng mới này mặc quân phục Lục quân, nhưng không được tính vào danh sách của Lục quân.
Chính phủ Trung Quốc chưa chính thức công bố số lượng nhân sự cụ thể cho bất kỳ quân chủng hay lực lượng hỗ trợ nào. (Hầu hết các phân tích nước ngoài sử dụng số liệu do Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế tổng hợp trong nghiên cứu “Cán cân Quân sự”). Năm 2017, Lục quân được báo cáo là “chiếm ít hơn một nửa lực lượng vũ trang.” Sách trắng năm 2019 “Quốc phòng Trung Quốc trong Kỷ nguyên Mới” tuyên bố Không quân được “duy trì ở mức ổn định,” còn số lượng Hải quân và Lực lượng Tên lửa được “tăng vừa phải.” Trong thập kỷ qua, các đơn vị và nhân sự Lục quân đã được chuyển giao để mở rộng quy mô của Thủy quân Lục chiến, vốn trực thuộc Hải quân, trong khi hầu hết các đơn vị hàng không và phòng không trên bờ của Hải quân đã được chuyển sang Không quân.
Mỗi Chiến khu trong số năm Chiến khu có một bộ tham mưu liên hợp bao gồm các sĩ quan và hạ sĩ quan từ tất cả các quân chủng. Trước cải cách, rất ít nhân sự Quân Giải phóng Nhân dân có kinh nghiệm làm việc trong các tổ chức liên hợp. Do đó, các sở chỉ huy mới được thành lập nhận thấy rằng việc đào tạo nhân sự tham mưu liên hợp là ưu tiên cao. Trực thuộc mỗi Chiến khu là các sở chỉ huy Lục quân và Không quân, cùng với sở chỉ huy Hải quân tại ba Chiến khu ven biển. Các sở chỉ huy Hải quân và Không quân khu vực đã hoạt động trong hệ thống chỉ huy trước đây, nhưng các sở chỉ huy Lục quân là mới được thành lập và có thể phải cần nhiều năm để tổ chức và huấn luyện nhân sự cho nhiệm vụ mới.
Các sở chỉ huy quân chủng cấp chiến khu này trực tiếp chỉ huy các đơn vị thuộc quân chủng mình, đồng thời nhận mệnh lệnh từ bộ tư lệnh chiến khu khu vực cũng như tư lệnh quân chủng tại Bắc Kinh. Tuy nhiên, các đơn vị tên lửa lại được chỉ huy bởi Tư lệnh Quân chủng Tên lửa tại Bắc Kinh. Các căn cứ tên lửa, bao gồm các lữ đoàn tên lửa đạn đạo hạt nhân và thông thường, cùng tên lửa hành trình trên bộ, có thể hỗ trợ các hoạt động của chiến khu hoặc được giao nhiệm vụ phản ứng độc lập. Một hệ thống chỉ huy tương tự có khả năng tồn tại đối với lực lượng hạt nhân đang ngày càng phát triển của Hải quân và Không quân.
Tái cơ cấu các đơn vị tác chiến
Giai đoạn thứ hai của cải cách bắt đầu vào tháng 04/2017 với việc tái cấu trúc các đơn vị tác chiến ở cấp quân đoàn và thấp hơn trong tất cả các quân chủng. Trên toàn lực lượng, nhiều sư đoàn và các trung đoàn trực thuộc đã bị bãi bỏ và cải tổ thành các lữ đoàn. Dù một số đơn vị cấp sư đoàn vẫn còn tồn tại, nhưng chuỗi chỉ huy hiện nay chủ yếu đi từ quân đoàn/tập đoàn quân xuống lữ đoàn rồi đến tiểu đoàn.
Gần như mọi đơn vị trong Lục quân xuống đến cấp đại đội đều bị ảnh hưởng theo một cách nào đó. Năm trong số 18 tập đoàn quân trước đây đã bị giải thể, với các đơn vị và nhân sự trực thuộc hoặc bị giải ngũ hoặc được chuyển sang 13 tập đoàn quân mới được thành lập. Các tập đoàn quân này được cải tổ thành một cấu trúc chuẩn hóa bao gồm 12 lữ đoàn, trong đó có 6 lữ đoàn tác chiến hợp thành và 6 lữ đoàn hỗ trợ, bao gồm pháo binh, lực lượng đặc nhiệm, và không quân lục quân. Do điều kiện đặc thù ở miền tây Trung Quốc, các đơn vị Lục quân tại các quân khu Tân Cương và Tây Tạng có cơ cấu khác so với các Chiến khu khác. Tất cả trừ 6 sư đoàn đã bị bãi bỏ (4 trong số đó đóng tại Tân Cương), nhiều trung đoàn được chuyển đổi thành lữ đoàn, và các tiểu đoàn tác chiến hợp thành được thành lập.
Tổng cộng, hơn 80 lữ đoàn tác chiến hợp thành được biên chế chủ yếu cho các tập đoàn quân (3 lữ đoàn thuộc quyền chỉ huy của Quân khu Tây Tạng), cùng với 6 lữ đoàn tác chiến hợp thành đổ bộ tại các Chiến khu Đông bộ và Nam bộ. Các tiểu đoàn được tuyên bố là “đơn vị tác chiến cơ bản” và chỉ huy của chúng được giao một nhóm tham mưu nhỏ để lập kế hoạch và kiểm soát các hoạt động (trái ngược với hệ thống kiểu Liên Xô, nơi các tiểu đoàn chỉ đơn thuần thực thi mệnh lệnh từ sở chỉ huy trung đoàn).
Hải quân cũng thực hiện các cải cách tổ chức lớn để tiếp nhận các tàu mới gia nhập hạm đội. Ba tàu sân bay của Hải quân (và các đơn vị không quân hải quân đi kèm) đã hình thành các lực lượng đặc nhiệm cấp phó quân đoàn, và các chi đội (zhidui) tàu hộ vệ cấp sư đoàn được thành lập để hoạt động cùng với các chi đội tàu khu trục, tàu ngầm, tàu đổ bộ, và tàu hậu cần đã có từ trước.
Thủy quân Lục chiến cũng được mở rộng lên tổng cộng 11 lữ đoàn (từ chỉ 2 lữ đoàn trong giai đoạn trước cải cách) với sự bổ sung của 6 lữ đoàn Thủy quân Lục chiến (từ các đơn vị Lục quân) cộng với 2 lữ đoàn đặc nhiệm và một lữ đoàn hàng không. Hạm đội tàu đổ bộ lớn của Hải quân – có khả năng vận chuyển các đơn vị Thủy quân Lục chiến và không quân hải quân đến những khoảng cách xa – hiện bao gồm 8 tàu Type 071, 4 tàu Type 075, và một tàu Type 076 mới (đang thử nghiệm trên biển) với máy phóng điện từ để phóng máy bay không người lái (UAV). Hơn 20 tàu hộ vệ Type 056 đã được chuyển giao cho Hải Cảnh Trung Quốc (trực thuộc Cảnh sát Vũ trang Nhân dân), trong khi 50 tàu Type 056A mới hơn vẫn ở lại Hải quân.
Các căn cứ và sở chỉ huy cũ của Không quân đã được hợp nhất thành 11 căn cứ không quân. Các đơn vị tiêm kích và tấn công mặt đất được tổ chức lại thành các lữ đoàn do các căn cứ không quân chỉ huy, theo đó loại bỏ gần 20 tổ chức cấp sư đoàn. Hầu hết máy bay ném bom, máy bay vận tải, và các máy bay đặc nhiệm khác vẫn được tổ chức thành 9 sư đoàn với các trung đoàn trực thuộc, chịu sự quản lý của các Chiến khu hoặc sở chỉ huy Không quân. Ba sư đoàn cũ của Quân đoàn Đổ bộ Hàng không được tổ chức lại thành 6 lữ đoàn, được hỗ trợ bởi các đơn vị vận tải, trực thăng, và đặc nhiệm. Các đơn vị phòng không trên mặt đất cũng được tăng cường để bảo vệ không phận đại lục hiệu quả hơn.
Sau cải cách, các căn cứ của Quân chủng Tên lửa được mở rộng thành 9 căn cứ cấp quân đoàn: 6 căn cứ bao gồm nhiều lữ đoàn phóng và 3 căn cứ hỗ trợ. Lực lượng tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng từ hầm chứa (silo) đang trong quá trình mở rộng nhanh chóng với việc bổ sung ba cánh đồng tên lửa bao gồm hơn 300 hầm phóng. Theo Matthew Bruzzese, số lượng lữ đoàn phóng đã tăng từ 29 lên ít nhất 41.
Các cải cách nhỏ hơn đã và đang diễn ra và dự kiến sẽ tiếp tục khi các công nghệ và năng lực mới được bổ sung vào lực lượng. Ví dụ, hồi năm 2024, Lực lượng Chi viện Chiến lược đã được tách thành các Lực lượng Vũ trụ, Không gian mạng, và Thông tin riêng biệt. Song song với tất cả các thay đổi về tổ chức, cơ sở hạ tầng vật chất của Quân Giải phóng Nhân dân như doanh trại và cơ sở huấn luyện cũng đã được nâng cấp trong thập kỷ qua nhằm mục đích nâng cao sĩ khí và khả năng sẵn sàng chiến đấu. Quân Giải phóng Nhân dân đã cập nhật học thuyết tác chiến liên hợp của mình, và chu kỳ huấn luyện của họ tìm cách duy trì sự sẵn sàng của đơn vị xuyên suốt cả năm thông qua các cuộc tập trận nội bộ đơn quân chủng và liên hợp, cũng như huấn luyện song phương và đa phương với lực lượng nước ngoài. Các quan sát viên từ sở chỉ huy cấp cao thường xuyên thực hiện các chuyến thanh tra và giám sát đến các đơn vị cấp dưới để theo dõi điều kiện chính trị và chiến thuật. Sự phát triển chính trị và lòng trung thành với Đảng Cộng sản chiếm vị trí hàng đầu trong các lực lượng vũ trang.
Ngoài ra, Cảnh sát Vũ trang Nhân dân, lực lượng dự bị của Quân Giải phóng Nhân dân, và lực lượng dân quân cũng đã trải qua các cuộc tái tổ chức lớn. Toàn bộ hệ thống giáo dục quân sự chuyên nghiệp đã được tinh gọn, với Học viện Tác chiến Liên hợp của Đại học Quốc phòng đóng vai trò trung tâm trong việc chuẩn bị cho các sĩ quan đảm nhận các nhiệm vụ liên hợp.
Các diễn biến về nhân sự
Một cải cách chưa thành hiện thực là thông báo vào tháng 12/2016, rằng Trung Quốc sẽ “xây dựng hệ thống sĩ quan quân đội lấy quân hàm làm trung tâm” – một thay đổi lớn so với hệ thống dựa trên cấp bậc truyền thống (bao gồm 10 quân hàm sĩ quan được gán cho 15 cấp bậc, từ cấp trung đội đến chủ tịch Quân ủy Trung ương). Hệ thống cũ dường như vẫn được duy trì ngoại trừ việc quân hàm chính cho một tiểu đoàn trưởng hiện nay có vẻ là trung tá thay vì thiếu tá, cho phép các sĩ quan giàu kinh nghiệm hơn chỉ huy các tiểu đoàn.
Năm 2021, các lực lượng vũ trang Trung Quốc đã chuyển chu kỳ tuyển quân từ mỗi năm một lần sang hai lần một năm, một phần để duy trì tỷ lệ nhân lực cao hơn trong các đơn vị, và thu hút thêm sinh viên đại học, cũng như tăng cường mức độ sẵn sàng của đơn vị. Các quy định tuyển quân mới tìm cách tuyển dụng những người lính vừa giải ngũ cho đợt “nhập ngũ lần hai,” đồng thời cho phép các cá nhân đủ tiêu chuẩn gia nhập với tư cách là hạ sĩ quan.
Khi lực lượng Quân Giải phóng Nhân dân thường trực trải qua đợt cắt giảm, những tổn thất đã được bù đắp trong chừng mực nào đó bằng sự mở rộng đáng kể số lượng nhân viên dân sự mặc quân phục nhưng không thuộc biên chế hỗ trợ các lực lượng vũ trang Trung Quốc. Các thành viên của đội ngũ dân sự mặc quân phục được phân công vào các công việc phi tác chiến trong giáo dục, y tế, hậu cần, cùng nhiều vị trí khác tại các sở chỉ huy trên toàn lực lượng. Số lượng nhân sự hiện tại trong nhóm này chưa được tiết lộ.
Các Sự kiện Không lường trước
Một số sự kiện bất ngờ xảy ra trong thập kỷ qua đã ảnh hưởng đến hướng đi của quá trình hiện đại hóa lực lượng quân đội Trung Quốc.
Căn cứ hải ngoại đầu tiên của Quân Giải phóng Nhân dân tại Djibouti, mở cửa năm 2017, cung cấp các lựa chọn mới tại một khu vực có tầm quan trọng chiến lược đối với Trung Quốc.
Cuộc khủng hoảng COVID-19 đã làm chậm quá trình huấn luyện, nhưng có lẽ, nó cũng cho phép các đơn vị có thời gian nghỉ ngơi sau nhiều năm bận rộn. Việc Quân Giải phóng Nhân dân tham gia vào phản ứng đại dịch quốc gia đã thử thách hệ thống y tế của họ và có khả năng cải thiện vị thế của họ trong mắt người dân.
Cuộc đối đầu năm 2020 dọc biên giới Trung-Ấn, dẫn đến việc triển khai quy mô lớn tới Đường Kiểm soát Thực tế, đóng vai trò như một chiến trường thử nghiệm cho các tổ chức hỗ trợ hậu cần và tác chiến hợp thành mới của Lục quân khi các đơn vị ngoài khu vực luân chuyển đến vùng này để tăng cường cho các đơn vị biên phòng.
Cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine và các cuộc giao tranh sau đó đã nhấn mạnh vai trò của các công nghệ và chiến thuật mới, đồng thời tác động đến học thuyết và huấn luyện của Lục quân Trung Quốc. Các cuộc tập trận và hoạt động liên hợp đa miền thường xuyên ở Biển Đông và quanh Đài Loan cũng cung cấp kinh nghiệm huấn luyện không giống như các thập kỷ trước.
Kết luận
Nhìn tổng thể, các cuộc cải cách từ năm 2015 dường như đã thành công trong việc “phá bỏ hệ thống Đại Lục quân” trong tổ chức của Quân Giải phóng Nhân dân để biến nó thành một lực lượng mang tính liên hợp hơn, trong đó bốn quân chủng chia sẻ vị thế và vai trò học thuyết bình đẳng hơn. Tuy nhiên, “Đại Lục quân” vẫn nắm giữ ảnh hưởng đáng kể do sự thống trị của họ trong việc bảo vệ biên giới đất liền của Trung Quốc và tỷ lệ các tướng lĩnh Lục quân nắm giữ các vị trí lãnh đạo cấp cao.
Các nhà phân tích Rick Gunnell và Jordan Shaw đã ghi nhận rằng các sĩ quan Lục quân chiếm 68% các vị trí lãnh đạo trong Quân ủy Trung ương và bộ tham mưu trực thuộc, và hơn 75% các vị trí lãnh đạo cấp cao tại các Chiến khu từ năm 2016 đến 2024. Năm 2016, lãnh đạo Quân ủy Trung ương bao gồm 10 phó chủ tịch và ủy viên quân sự, trong đó 6 người thuộc Lục quân. Ngày nay, sau khi các sĩ quan bị cách chức vì tham nhũng – điều được cho là “mối đe dọa lớn nhất mà đảng phải đối mặt,” chỉ còn hai phó chủ tịch và một ủy viên quân sự phục vụ trong Quân ủy Trung ương, với hai người là sĩ quan Lục quân. Ngay cả khi chỉ tính riêng thước đo này, Lục quân vẫn tiếp tục thống trị giới lãnh đạo cấp cao của Quân Giải phóng Nhân dân. Hơn nữa, Bộ trưởng Quốc phòng, Đô đốc Đổng Quân, không phải là ủy viên Quân ủy Trung ương, cũng không phải là ủy viên Quốc vụ viện (như những người tiền nhiệm).
Trong khi đó, Quân Giải phóng Nhân dân đang mở rộng năng lực toàn cầu thông qua việc phát triển các năng lực tầm xa của Hải quân, Không quân, Quân chủng Tên lửa và ba lực lượng hỗ trợ mới. Khi Lục quân vẫn duy trì mối đe dọa xâm lược đổ bộ nhắm vào Đài Loan, cùng các lực lượng phòng thủ biên giới và bờ biển lớn, sự mở rộng các lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay, hạm đội tàu ngầm hạt nhân, hạm đội tàu đổ bộ, và Thủy quân Lục chiến của Hải quân nhấn mạnh mục tiêu triển khai lực lượng trên biển vượt xa Chuỗi đảo Thứ nhất và Thứ hai. Những năng lực viễn chinh này sẽ cần thêm nhiều năm nữa để hoàn thiện thông qua huấn luyện và kinh nghiệm tác chiến.
Với quá trình hiện đại hóa quân sự được lên kế hoạch kéo dài đến năm 2049, Đảng Cộng sản Trung Quốc và giới lãnh đạo quân đội đã thiết lập các mục tiêu dài hạn, linh hoạt. Bất chấp các hoạt động xung quanh Đài Loan, ở Biển Đông, và dọc Đường Kiểm soát Thực tế đang tranh chấp với Ấn Độ, Quân Giải phóng Nhân dân có thể sẽ muốn tuân thủ lộ trình trong “chiến lược ba bước” và duy trì thế trận răn đe tích cực để đạt được các mục tiêu quốc gia hơn là vướng vào một cuộc xung đột quân sự mà họ không tự tin sẽ giành chiến thắng. Nhưng nếu các yếu tố trong nước hoặc nước ngoài làm thay đổi những tính toán và ưu tiên đó, thì các lực lượng vũ trang Trung Quốc vẫn đang nỗ lực để sẵn sàng thực hiện mệnh lệnh của Đảng Cộng sản khi được yêu cầu.
Dennis J. Blasko là Trung tá đã nghỉ hưu của Quân đội Mỹ, từng phục vụ 23 năm ở vị trí Sĩ quan Tình báo Quân sự và Sĩ quan Khu vực Nước ngoài chuyên về Trung Quốc. Ông đã viết nhiều bài báo và chương sách về quân đội Trung Quốc, đồng thời là tác giả cuốn “The Chinese Army Today: Tradition and Transformation for the 21st Century,” ấn bản thứ hai (Routledge, 2012).
